Tác giả Chủ đề: Doanh nhân cần lưu ý việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp - tác động lớn đấy ...  (Đọc 2353 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline NHQuang

  • Administrator
  • Cánh cụt trưởng thành
  • ****
  • Bài viết: 2,588
  • Intake VIII
Tôi mở topic để anh em làm quản lý cần phải chú ý tới việc sửa Luật Doanh nghiệp trong năm nay. Trước hết tôi sẽ post một số nhận định của tôi đối với Luật Doanh nghiệp hiện tại.

Khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” hay “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” đã là khá thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005. Tại thời điểm ban hành, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam đã tạo ra một môi trường pháp luật thống nhất và bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp và nguồn vốn đầu tư.

Tuy nhiên, qua một thời gian ngắn hoạt động, tư tưởng về một môi trường pháp luật thống nhất và bình đẳng đã dần biến mất. Các văn bản hướng dẫn các luật này đã có giải thích khác nhau về những khái niệm này. Trong giai đoạn từ 2006 (khi hai luật có hiệu lực) đến 2009, khái niệm ‘nhà đầu tư nước ngoài’ đã có đến ít nhất 4 văn bản hướng dẫn các luật này đưa ra các cách hiểu và áp dụng khác nhau (xem hộp 1), chưa kể đến những quy định pháp luật khác, như Luật Thương mại. Thực trạng này đã dẫn đến cho tới tận nay, các địa phương, nhiều bộ ngành vẫn có những cách hiểu, cách áp dụng pháp luật khác nhau. Có thời kỳ, một số địa phương đã cấp các giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài dựa trên cách hiểu về quy định của Luật Đầu tư 2005 hay Luật Doanh nghiệp 2005. Nhưng nhiều địa phương khác và trong các thời kì khác, các giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh không được cấp cho các doanh nghiệp có nguồn vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này đã dẫn đến tình trạng pháp lý của những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh không được ổn định, địa vị pháp lý không được thừa nhận.

Trích dẫn
Những khái niệm khác nhau về “nhà đầu tư nước ngoài”

1. Luật Đầu tư:

“Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” (Điều 3);

2. Nghị định 69/2007/NĐ-CP:

“Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:
  • Tổ chức nước ngoài là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam.
  • Cá nhân nước ngoài là người mang quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam.

3. Quyết định 55/2009/QĐ-TTg và Quyết định 88/2009/QĐ-TTg:

Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

“a.  Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam;

  b. Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%;

  c. Quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%;

  d. Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam”. (Điều 1 của Quyết định 55/2009/QĐ-TTg và Điều 2 của Quyết định 88/2009/QĐ-TTg)

4. Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính:
  • Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, bao gồm cả người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài;
  • Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam;
  • Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này;
  • Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn nước ngoài.[/l][/l][/l][/l][/l][/l]
Sau đó, Nghị định 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ vào năm 2010 đã cố gắng thống nhất lại khái niệm ‘nhà đầu tư nước ngoài’ nhưng những văn bản dưới luật ban hành trước đó đã tạo nên những định kiến, tư duy và lề thói trong việc áp dụng pháp luật.
   
Trích dẫn
Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp: [size=78%][/size]Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư nước ngoài [size=78%][/size][size=78%](Khoản 4, Điều 11)[/size][/size][size=78%][/color].[/size][/size]

[/size][size=78%]
[/size]Những vướng mắc về khái niệm và chế định “nhà đầu tư nước ngoài”  đã tạo nên hệ luỵ trong đối xử với “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Câu chuyện Công ty cổ phần Hóa - Dược phẩm Mekophar buộc phải xin hủy niêm yết vào tháng 7/2012 để cứu doanh nghiệp (DN) thoát ra “vòng kim cô” dành cho công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Các cơ quan quản lý nhà nước có những cách hiểu khác nhau về quyền mua cổ phần chào bán hay góp vốn bổ sung của nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam với các điều ước quốc tế đa phương (cam kết WTO) và song phương (Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ) nên đã giới hạn hoạt động kinh doanh của các công ty Việt Nam có từ 1 đồng vốn nước ngoài trở lên. Mekophar không phải là một doanh nghiệp duy nhất chấp nhận đánh đổi giữa “nguồn vốn ngoại” với “vị thế thị trường” của các doanh nghiệp có nguồn vốn trong nước. Tình huống này đã làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài vì tính không rõ ràng, thiếu cam kết từ các quy định pháp luật cũng như chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam.[size=78%]
[/size][size=78%][/size][size=78%]
Sự thiếu bình đẳng trong hoạt động của các loại hình doanh nghiệp không chỉ tồn tại giữa doanh nghiệp có 100% vốn Việt Nam với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà còn là giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước với các doanh nghiệp khác.

[/size]Như đã nêu, Luật Doanh nghiệp 2005 cũng đã tạo nên được một chế định pháp lý thống nhất trong việc thành lập, tổ chức hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu. Nhưng trong quá trình thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp nhà nước vẫn có những “ưu ái” khi áp dụng pháp luật, chẳng hạn Luật Doanh nghiệp không có loại hình “tổng công ty cổ phần” nhưng các “tổng công ty cổ phần” với phần vốn nhà nước chiếm ưu thế vẫn được thành lập, hay Luật Doanh nghiệp chỉ cho phép công ty cổ phần được phát hành trái phiếu thì doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo hình thức công ty TNHH vẫn được phát hành trái phiếu…[size=78%][/size]Những vấn đề nêu trên cần phải được giải quyết rốt ráo tại Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi lần này. Đồng thời Nhà nước cũng cần phải có các biện pháp hữu hiệu để hạn chế bản thân mình tự ban hành những quy định hướng dẫn chồng chéo hay không thống nhất. Điều này không chỉ kích thích các thành phần kinh tế đầu tư vào Việt Nam, tham gia cạnh tranh trên thị trường mà còn là thể hiện cam kết của Nhà nước Việt Nam với nhà đầu tư quốc tế và để tạo nên hình ảnh một nhà nước tôn trọng pháp quyền.[size=78%]
[/size]Bài viết này được đăng trên Thời báo kinh tế Sài gòn (xem link dưới đây). Tôi post lại để để muốn trao đổi thêm với anh em về chủ đề này. [size=78%]http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/111765/Van-chua-thong-nhat-va-binh-dang.html[/size]
[/list]
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 03, 2014, 07:07:20 PM gửi bởi NHQuang »
"Stay hungry, stay foolish" - Steve Jobs

Offline can2do

  • Cánh cụt mới sinh
  • *
  • Bài viết: 286
  • Intake ...
Chủ đề này hay đấy anh ạ.


Em quan tâm đến tác động của Luật và việc sửa đổi luật đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn là DN có vốn đầu tư nước ngoài, nên sẽ hóng và có comment liên quan đến phần này.


Khi nào có dự thảo thì anh post ngay cho anh em tham khảo anh nhé.


Thanks
Ồ, thì ra đó là niềm vui