Khách hàng thì không đông như mọi khi, các giải pháp được triển khai,các nghiên cứu phân tích được tiến hành từ marketing,bán hàng,tài chính,nhân sự... v.v...và kết quả rõ ràng là vẫn còn nhiều khách hàng, khách hàng có tiền có khả năng thanh toán có nhu cầu....nhưng vẫn loay hoay và nguyên nhân vẫn là ... khủng hoảng kinh tế

. Sáng trưa chiều tối mở TV báo chí hay ra phố toàn thấy nói đến khủng hoảng kinh tế...
Vậy suy thoái/khủng hoảng kinh tế là cái gì? Bài sưu tầm trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia không hẳn lý thuyết nhưng giúp chúng ta hiểu một phần khái niệm không mới nhưng phức tạp này:
Suy thoái kinh tế (
tiếng Anh:
recession/economic downturn) được định nghĩa trong
Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của
Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ
tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (
NBER) của
Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập mờ hơn
“là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như
việc làm,
đầu tư, và
lợi nhuận doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (
giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (
lạm phát) trong thời kì
đình lạm.
Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là
khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế.
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo
chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không thường xảy ra. Nhiều tranh luận về việc chính phủ có nên can thiệp để điều hòa kinh tế (
học thuyết kinh tế vĩ mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ kinh tế (lý thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậm chí là tạo ra
chu kỳ kinh tế (
chủ nghĩa tiền tệ). [
sửa] Nguyên nhân của suy thoái kinh tế Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh). Ví dụ, những nhà kinh tế học
chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn. Trường phái
kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát. Phần lớn học giả theo
thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém. [
sửa] Đại khủng hoảng
Bài chi tiết: Đại khủng hoảngTrước thời gian
Đại khủng hoảng, một làn sóng đầu tư tràn lan trên
thị trường chứng khoán, làm giá
chứng khoán cao giả tạo. Quá trình này còn được đẩy mạnh bằng việc chứng khoán quay lại thế chấp cho những khoản vay để tiếp tục mua chứng khoán. Khi nền kinh tế có những dấu hiệu chững lại và giá chứng khoán giảm xuống, hiệu ứng dây chuyền xảy ra. Khi các khoản đầu tư mất giá trị danh nghĩa và các khoảng vay trở thành nợ xấu, rất nhiều tổ chức tài chính sụp đổ, gây ra khủng hoảng tiền tệ.
Phân tích này bị đả kích bởi các học giả theo
chủ nghĩa tiền tệ như
Milton Friedman, người viết rằng Đại khủng hoảng chỉ là một cơn suy thoái nếu
Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ không thắt chặt
cung tiền tệ khi mọi người đổ đến các
ngân hàng để rút tiền. Các khoản đầu tư trở nên không hấp dẫn do hậu quả của thiểu phát, tăng lãi suất thực và giảm thu nhập cá nhân và doanh nghiệp. Hậu quả là rút tiền khỏi
ngân hàng làm một số ngân hàng đổ vỡ vì không còn dự trữ trong khi các khoản nợ chưa thu hồi được. Thực tế này khiến các nhà đầu tư càng sợ hãi và tiếp tục rút tiền ra khỏi ngân hàng. Từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, nguồn cung tiền tệ giảm đi một phần ba buộc sản lượng giảm theo khi giá cả được điều chỉnh,
Khi
tổng thống Franklin D. Roosevelt nhậm chức năm 1933, ông bắt đầu chương trình cải cách tích cực
“New Deal” với 3 mục tiêu (1) khẩn trương cứu tế người thất nghiệp, (2) khôi phục kinh tế trở lại tình trạng bình thường, và (3) cải cách hệ thống tài chính để
Đại khủng hoảng không bao giờ xảy ra nữa. Roosevelt đưa
Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) gia tăng trở lại, đạt mức 11% hàng năm trong giai đoạn 1933-1936.
Cho đến nay, thảm họa như Đại khủng hoảng không xảy ra với các nước công nghiệp hóa nữa. Tuy vậy nhiều nước
Châu Mỹ Latin trải qua suy sụp kinh tế đi liền với
lạm phát cao những năm 1980,
Nhật Bản sa vào khủng hoảng thập kỷ 1990, và các nước thuộc hệ thống
xã hội chủ nghĩa ở Trung và
Đông Âu chìm đắm trong khủng hoảng kinh tế khi chuyển đổi sang
kinh tế tư bản. Thêm vào đó, từ
“suy thoái” có thể sử dụng để mô tả tình hình của rất nhiều quốc gia nghèo thuộc
Thế giới thứ ba (dù rằng trong nhiều trường hợp, các quốc gia này chưa hề có được giai đoạn phát triển kinh tế).
Thời gian
Đại khủng hoảng ở
Châu Âu là một trong những nguyên nhân cho sự chấp nhận
Adolf Hitler và các nhóm
phát xít cực đoan. Sự hoành hành của chúng là nguyên nhân chủ yếu của
Thế chiến thứ hai, cuộc chiến mà đến lượt nó là gốc gác cho sự kích thích phát triển kinh tế sau này.