Tác giả Chủ đề: Suy thoái kinh tế hay khủng hoảng kinh tế  (Đọc 8135 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline hosibac

  • Cánh cụt dậy thì
  • ***
  • Bài viết: 1,668
Suy thoái kinh tế hay khủng hoảng kinh tế
« vào lúc: Tháng Ba 10, 2009, 09:31:12 AM »
Khách hàng thì không đông như mọi khi, các giải pháp được triển khai,các nghiên cứu phân tích được tiến hành từ marketing,bán hàng,tài chính,nhân sự... v.v...và kết quả rõ ràng là vẫn còn nhiều khách hàng, khách hàng có tiền có khả năng thanh toán có nhu cầu....nhưng vẫn loay hoay và nguyên nhân vẫn là ... khủng hoảng kinh tế :-\ . Sáng trưa chiều tối mở TV báo chí hay ra phố toàn thấy nói đến khủng hoảng kinh tế...

Vậy suy thoái/khủng hoảng kinh tế là cái gì? Bài sưu tầm trên   Bách khoa toàn thư mở Wikipedia  không hẳn lý thuyết nhưng giúp chúng ta hiểu một phần khái niệm không mới nhưng phức tạp này:

Suy thoái kinh tế (tiếng Anh: recession/economic downturn) được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập mờ hơn “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm.
Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế.
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không thường xảy ra. Nhiều tranh luận về việc chính phủ có nên can thiệp để điều hòa kinh tế (học thuyết kinh tế vĩ mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ kinh tế (lý thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậm chí là tạo ra chu kỳ kinh tế (chủ nghĩa tiền tệ).  [sửa] Nguyên nhân của suy thoái kinh tế  Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh). Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn. Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát. Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém.  [sửa] Đại khủng hoảng  Bài chi tiết: Đại khủng hoảng
Trước thời gian Đại khủng hoảng, một làn sóng đầu tư tràn lan trên thị trường chứng khoán, làm giá chứng khoán cao giả tạo. Quá trình này còn được đẩy mạnh bằng việc chứng khoán quay lại thế chấp cho những khoản vay để tiếp tục mua chứng khoán. Khi nền kinh tế có những dấu hiệu chững lại và giá chứng khoán giảm xuống, hiệu ứng dây chuyền xảy ra. Khi các khoản đầu tư mất giá trị danh nghĩa và các khoảng vay trở thành nợ xấu, rất nhiều tổ chức tài chính sụp đổ, gây ra khủng hoảng tiền tệ.
Phân tích này bị đả kích bởi các học giả theo chủ nghĩa tiền tệ như Milton Friedman, người viết rằng Đại khủng hoảng chỉ là một cơn suy thoái nếu Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ không thắt chặt cung tiền tệ khi mọi người đổ đến các ngân hàng để rút tiền. Các khoản đầu tư trở nên không hấp dẫn do hậu quả của thiểu phát, tăng lãi suất thực và giảm thu nhập cá nhân và doanh nghiệp. Hậu quả là rút tiền khỏi ngân hàng làm một số ngân hàng đổ vỡ vì không còn dự trữ trong khi các khoản nợ chưa thu hồi được. Thực tế này khiến các nhà đầu tư càng sợ hãi và tiếp tục rút tiền ra khỏi ngân hàng. Từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, nguồn cung tiền tệ giảm đi một phần ba buộc sản lượng giảm theo khi giá cả được điều chỉnh,
Khi tổng thống Franklin D. Roosevelt nhậm chức năm 1933, ông bắt đầu chương trình cải cách tích cực “New Deal” với 3 mục tiêu (1) khẩn trương cứu tế người thất nghiệp, (2) khôi phục kinh tế trở lại tình trạng bình thường, và (3) cải cách hệ thống tài chính để Đại khủng hoảng không bao giờ xảy ra nữa. Roosevelt đưa Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) gia tăng trở lại, đạt mức 11% hàng năm trong giai đoạn 1933-1936.
Cho đến nay, thảm họa như Đại khủng hoảng không xảy ra với các nước công nghiệp hóa nữa. Tuy vậy nhiều nước Châu Mỹ Latin trải qua suy sụp kinh tế đi liền với lạm phát cao những năm 1980, Nhật Bản sa vào khủng hoảng thập kỷ 1990, và các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu chìm đắm trong khủng hoảng kinh tế khi chuyển đổi sang kinh tế tư bản. Thêm vào đó, từ “suy thoái” có thể sử dụng để mô tả tình hình của rất nhiều quốc gia nghèo thuộc Thế giới thứ ba (dù rằng trong nhiều trường hợp, các quốc gia này chưa hề có được giai đoạn phát triển kinh tế).
Thời gian Đại khủng hoảngChâu Âu là một trong những nguyên nhân cho sự chấp nhận Adolf Hitler và các nhóm phát xít cực đoan. Sự hoành hành của chúng là nguyên nhân chủ yếu của Thế chiến thứ hai, cuộc chiến mà đến lượt nó là gốc gác cho sự kích thích phát triển kinh tế sau này.